Kỹ thuật nuôi Ngỗng xám sinh sản


1.Giới thiệu chung

Giống ngỗng Xám là giống vật nuôi được Trung tâm nghiên cứu Vịt Đại Xuyên nuôi khảo nghiệm thành công và được Bộ Nông nghiệp và phát triền Nông thôn công nhận trong danh mục giống vật nuôi ở Việt Nam, ngiỗng Xám có đặc điểm màu lông đồng nhất, lúc 01 ngày tuổi có màu vàng xám, bụng có màu lông vàng, chân và mỏ màu đen. Lúc trưởng thành có màu lông xám, chân màu hồng nhạt, mỏ màu hồng. Ngỗng phù hợp với nhiều điều kiện chăn nuôi khác nhau.

2.Phương thức chăn nuôi

Chăn nuôi gióng ngỗng Xám sinh sản theo hình thức nuôi công nghiệp hoặc nuôi chăn thả.

3. Chuồng trại và thiết bị.

Đối với phương thức chăn nuôi cổ truyền trong nông hộ mang tính chất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp cần phải nuôi nhốt lại và làm chuồng nuôi độc lập với nhà ở. Đối với chăn nuôi gia trại, trang trại theo hình thức bán công nghiệp và công nghiệp với quy mô vừa và lớn, cần phải xây dựng chuồng trại biệt lập với khu dân cư, cách xa khu đô thị, đường giao thông, khu công nghiệp, trường học, bệnh viện. Khu chăn nuôi phải có tường rào bao quanh, nên quy hoạch có vành đai an toàn, không nuôi chung giữa các loại gia súc và gia cầm. Xây dựng chuồng trại phải phù hợp cho từng giai đoạn của ngỗng: chuồng nuôi ngỗng con, chuồng nuôi ngỗng hậu bị, chuồng nuôi ngỗng sinh sản.

Chuồng trại cho ngỗng phải đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, chuồng không bị mưa hắt, nắng không chiếu vào ổ đẻ. Có thể làm bằng lưới, tre,  nứa, lá hoặc làm chuồng sàn trên ao hồ, trên bè (phải quây gọn).

Diện tích chuồng nuôi căn cứ vào mật độ để xác định nhu cầu làm chuồng nuôi cho phù hợp: Nhu cầu mật độ chuồng nuôi như sau:

Giai đoạn (tuần tuổi)

Nhốt trong chuồng

 (con/m2)

Chuồng có sân chơi

(con/m2)

Chuồng + Vườn cây (con/m2)

Chuồng + nhốt trên ao

(con/m2)

0 – 2 tuần

10 - 15

10 - 15

10 - 15

10 - 15

2 - 4 tuần

5 - 6

6 - 8

6 - 8

6 - 8

5 - 8 tuần

3 - 4

5 - 6

5 - 6

5 - 6

Hậu bị

3

3 - 4

3 - 4

3 - 4

Sinh sản

1 – 2

2 - 3

2 - 3

2 - 3

Nếu mật độ cao quá làm giảm năng suất và tiểu khí hậu chuồng nuôi xấu đi. Nhưng nếu mật độ thấp sẽ không kinh tế khi sử dụng chuồng trại.

Nền chuồng có thể lát gạch, xi măng + cát không được lát gạch hoa và đánh bóng, có thể làm nền bằng cát.

Độn chuồng bằng trấu hoặc phôi bào hoặc rơm rạ băm nhỏ nhưng không bị hôi mốc. Thường xuyên bổ sung thêm độn chuồng làm cho độn chuồng khô, chuồng ngỗng sinh sản độn chuồng dày 10 - 15cm.

Nuôi ngỗng nên có bãi cỏ hoặc là trồng rau xanh cung cấp cho ngỗng.

Các ô chuồng không nên làm quá rộng, ngăn thành ô tối đa 200 con ngỗng.

* Sân chơi: Diện tích sân chơi yêu cầu gấp 2 - 3 lần diện tích trong chuồng, nuôi khô hoàn toàn không có diện tích chăn thả thì sân chơi gấp 3 lần diện tích trong chuồng. Sân chơi dốc ra ngoài để thoát nước, dọc sân chơi nên có cây bóng mát để chắn gió và che nắng. Nếu ngỗng nuôi trên khô thì song song với chuồng là máng uống nước có tấm ngăn tránh ngỗng vào bơi. Nếu sử dụng mương bơi phải thường xuyên thay nước. Sân chơi bằng phẳng, không đọng nước. Có thể lát gạch hoặc bê tông.

Đối với nuôi thả trên vườn cây, nuôi trên ao phải quây ngỗng cho cố định không nên thả rông.

* Máng ăn, máng uống: Chuẩn bị đầy đủ máng ăn máng uống cho ngỗng:

Giai đoạn ngỗng con: Dùng máng tôn hoặc mẹt tre hoặc tấm nilông cho ngỗng ăn. Có thể sử dụng máng ăn, máng uống bằng xây gạch và bê tông, máng uống phải để hoặc xây ở ngoài sân chơi tránh ướt chuồng nuôi.

* Các trang thiết bị: Chuẩn bị việc thắp sáng và sưởi ấm cho ngỗng giai đoạn nhỏ như bóng điện, chụp sưởi những nơi không có điện phải sử dụng đèn dầu hoặc bếp than...

     Đến giai đoạn sinh sản phải chuẩn bị ổ đẻ cho ngỗng, ổ cho ngỗng đẻ có thể làm bằng gỗ kích thước 45 cm  x 45 cm  x 45 cm, hoặc làm bằng những sảo tre lót rơm rạ hoặc quận tròn bằng rơm.

4. Chọn giống để nuôi.

Khi nuôi phải chọn đúng giống đúng chủng loại để nuôi nếu nuôi con bố mẹ phải mua từ những cơ sở nuôi giữ giống ông bà, nếu nuôi con thương phẩm phải lấy từ những đàn giống bố mẹ. Không nên tận dụng những đàn thương phẩm để nuôi làm đàn bố mẹ sẽ ảnh hưởng xấu đến năng suất.

Trong quá trình chăn nuôi ngỗng có 3 giai đoạn chọn:

+ Chọn ở 1 ngày tuổi: Chọn ngỗng phải nhanh nhẹn, bông lông, khỏe mạnh không khô chân, nặng bụng, khèo chân, hở rốn. Nuôi ngỗng bố mẹ phải chọn đực mái theo tỷ lệ đực mái: 1/2 hoặc 1/3.

+ Chọn ở 56 ngày tuổi: Đối với các đàn giống ngỗng bố mẹ kết thúc 56 ngày tuổi chọn để chuyển lên nuôi giai đoạn hậu bị: Căn cứ vào tầm vóc và ngoại hình của giống chọn những con có màu lông xám, mỏ và chân màu hồng nhạt, kết hợp với khối lượng ngỗng để chọn: khối lượng 3,4 – 3,7 kg/con.

Tỷ lệ ghép đực/mái đối là 1/2 - 1/3, tỷ lệ chọn giai đoạn này khoảng 80 – 90%.

+ Chọn ngỗng lên sinh sản: Tiến hành chọn trước khi vào đẻ là 2 tuần cũng căn cứ vào ngoại hình Căn cứ vào tầm vóc và ngoại hình của giống chọn những con có màu lông xám, mỏ và chân màu hồng nhạt, kết hợp với khối lượng ngỗng để chọn: khối lượng 5,0 – 6,7 kg/con.

Tỷ lệ ghép đực/mái đối là 1/2 - 1/3, tỷ lệ chọn giai đoạn này khoảng 90 – 95%.

5. Thức ăn cho ngỗng:

5.1. Loại thức ăn và chất lượng thức ăn:

Thức ăn đóng vai trò quan trọng để có sản phẩm an toàn. Cho nên thức ăn sử dụng cho ngỗng cũng phải xuất phát từ các cơ sở sản xuất thức ăn đảm bảo công tác vệ sinh. Tăng cường sử dụng nguồn thức ăn địa phương như vậy mới có điều kiện hạ giá thành sản phẩm, nhưng nguồn thức ăn này cũng phải đảm bảo vệ sinh. Không sử dụng thức ăn mà có chất kích thích tăng trọng, có các hoá chất cấm có trong thức ăn.

Có thể sử dụng rất nhiều loại nguyên liệu, sản phẩm phụ nông nghiệp cho ngỗng ăn hoặc sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng viên kết hợp với thức ăn xanh (chiếm 30 - 40%) và thức ăn hạt. Nuôi ngỗng nên tận dụng các loại thức ăn mà địa phương sẵn có thì giá thành hạ. Những nguyên liệu thức ăn dùng được cho ngỗng: Gạo, thóc, ngô, đỗ tương, tấm, cám, cá tép, cua, ốc, don, dắt….. bã bia bã rượu, khoai rau bèo… nếu thức ăn được nấu chín thì khả năng tiêu hoá và hấp thụ tôt hơn và có hiệu quả kinh tế hơn.

Khi sử dụng các loại thức ăn phải lưu ý không  được mốc và ôi chua. Khi sử dụng bất kỳ loại thức ăn nào đều phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng/1kg phù hợp cho từng giống ngỗng và từng giai đoạn ngỗng.

Tiêu chuẩn thức ăn cho ngỗng sinh sản:

Giai đoạn tuổi

Protein (%)

Năng lượng (kcal)

1 – 3 tuần tuổi

20,0

2800

4 – 8 tuần tuổi

18,0

2800

9 – 30 tuần tuổi

15,0

2600

Giai đoạn sinh sản

16,0

2600

5.2. Lượng thức ăn:

- Đối với ngỗng nuôi giống phải thực hiện chế độ ăn định lượng để khống chế khối lượng cơ thể theo tiêu chuẩn thì khả năng sinh sản về sau năng suất sẽ cao.

Ngày tuổi

TĂ hỗn hợp hoàn chỉnh (g/con/ngày)

TĂ tổng hợp

TĂ xanh

1 – 5

35

18

30

6 – 10

90

40

70

11 – 20

110

50

100

21 - 30

220

120

200

31 - 40

280

140

300

41 - 50

328

160

400

51 - 60

338

180

500

61 - 240

260

180

300

 

Có thể thúc đẻ bằng thức ăn hỗn hợp hoặc mồi tươi với thóc, khi ngỗng đẻ trứng đầu tiên tăng thức ăn lên 15% khi đàn đẻ 5% tăng thêm sao cho 7 ngày ngỗng ăn tự do ở ban ngày.

Trong giai đoạn nuôi ngỗng con và hậu bị còn phụ thuộc vào khối lượng của chúng nếu khối lượng cao hơn hoặc thấp hơn biểu đồ chuẩn thì phải điều chỉnh lượng thức ăn  tăng hoặc giảm 5 gam/con/ngày.

6. Chăm sóc nuôi dưỡng:

6.1. Giai đoạn nuôi ngỗng con (từ 1-56 ngày tuổi)

Giai đoạn 1: Từ 0 - 3 tuần tuổi.

Giai đoạn 2: Từ 4 - 8 tuần tuổi.

* Nhiệt độ chuồng nuôi:

Khi ngỗng ở trong máy ấp nở với điều kiện nhiệt độ trên 37oC khi chuyển xuống chuồng nuôi để đảm bảo cho ngỗng con khoẻ mạnh nhiệt độ chuồng nuôi khi ngỗng 1 - 3 ngày tuổi phải đạt 28 - 32 oC từ ngày tuổi thứ 4 trở đi mỗi ngày giảm 1oC cho tới khi đạt 25 oC.

Mỗi quây ngỗng con nhốt từ 50 - 100 con là phù hợp. Trung bình cứ 200w cho 35 con ngỗng và 70 con ngỗng cần 1 chụp sưởi. Ở những nơi không có điện cần sưởi ấm bằng đèn toạ đăng, nước nóng, bếp trấu, bếp than nhưng phải hạn chế khí CO2

* Ẩm độ không khí:

Ẩm độ thích hợp cho ngỗng con là 60 - 70 %

* Chế độ chiếu sáng cho ngỗng:

Từ tuần thứ 1 đến tuần thứ 2 thắp sáng cả ngày đêm cho ngỗng, sau đó thời gian thắp sáng là 16 - 18 giờ/ngày, ban ngày sử dụng ánh sáng tự nhiên.  Cường độ ánh sáng cho ngỗng trong giai đoạn này là:

1 - 10 ngày tuổi 3 w/m2.

11 - 28 ngày tuổi 1,5w/m. Trong thời gian này ban ngày sử dụng ánh sáng tự nhiên.

* Thông thoáng:

            Lượng cung cấp không khí phụ thuộc vào độ ẩm và quyết định bởi chất độn chuồng. Lượng không khí trao đổi phải đảm bảo sạch, cho những khí thải của phân được đưa ra ngoài. Trong giai đoạn ngỗng con 1 - 14 ngày tuổi hạn chế gió thổi mạnh vào chuồng nuôi.

* Cung cấp nước uống:

            Cung cấp đầy đủ nướ sạch và đảm bảo cho Ngỗng Xám, ở tuần tuổi thứ nhất không cho uống nước lạnh dưới 10oC, tuần tuổi thứ 2 và 3 không cho uống nước lạnh dưới 6oC và cũng cần hạn chế ngỗng uống nước trên 25oC. Nhu cầu nước uống trung bình:

                        1 - 7 ngày tuổi      : 120 mml/con/ngày.

                        8 - 14 ngày tuổi    : 250 mml/con/ngày  .

                      15 - 28 ngày tuổi  : 350 mml/con/ngày.

Nước uống giai đoạn sau (5 - 8 tuần) nhu cầu cần 0,4 - 0,6 lít/con/ngày, luôn phải có nước sạch cho ngỗng uống. ở giai đoạn này máng ăn vẫn để trong chuồng nuôi còn máng uống bố trí ở sân chơi để tránh bị ướt chuồng. Máng uống nước không để quá xa nơi ngỗng ăn.

* Chăm sóc và nuôi dưỡng:

Ngỗng sau khi nở khô lông cho ăn uống càng sớm càng tốt nếu cho ăn uống muộn thì ngỗng dễ bị khô chân dẫn đến cứng hàm làm tỷ lệ hao hụt tuần đầu rất cao hoặc ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của ngỗng.

            Giai đoạn ngỗng từ 1 - 21 ngày tuổi: Dùng thức ăn hỗn hợp dạng viên kết hợp với thức ăn xanh sau 2 tuần có thể cho ngỗng ăn thóc luộc, tấm, ngô, gạo lật, thóc luộc, thóc, đỗ tương, khô đỗ tương, cám gạo, bột cá nhạt, bột máu, bột đầu tôm, premik VTM, khoáng, hoặc dùng cơm, tấm, ngô, gạo lật, thóc luộc, thóc sống trộn với thức ăn đạm tươi như: Tôm, tép, cua, ốc, giun đất, don, dắt, rạm, bọ đỏ... và các loại côn trùng khác. Ở tất cả các giai đoạn nuôi ngỗng thì sử dụng thức ăn dưới dạng viên kết hợp thức ăn xanh hoặc hạt nếu sử dụng thức ăn dạng bột thì lãng phí nhiều và không đảm bảo quy trình chăn nuôi. Đối với ngỗng nuôi khi cho ăn trên nền hoặc ni lông phải rắc thức ăn đều và rộng để tất cả ngỗng được ăn cùng một lúc.

* Kiểm tra đàn ngỗng:

            Trạng thái đàn ngỗng cho phép ta đánh giá về sức khoẻ của nó.

- Ngỗng con phân tán đều khắp chuồng chứng tỏ đàn ngỗng khoẻ mạnh, thoải mái, nhiệt độ trong chuồng đúng yêu cầu.

- Ngỗng con dồn đống là do bị lạnh, nhiệt độ chuồng nuôi thấp.

- Ngỗng con nằm há mỏ mà cánh dơ lên là do nhiệt độ chuồng nuôi quá cao, ngỗng không chơi hoặc nằm ở khu vực nhất định là chắc chắn chuồng nuôi có gió lùa.

- Ngỗng bị bết dính là do chuồng ẩm, chế độ nuôi dưỡng kém.

- Kiểm tra sức khoẻ đàn ngỗng hàng ngày: Những ngỗng ốm yếu cần loại ngay ra khỏi đàn, khi đàn ngỗng biếng ăn, biếng uống, phân thay đổi phải báo ngay cho thú y.

6.2. Giai đoạn nuôi ngỗng hậu bị:

Giai đoạn hậu bị là giai đoạn 9 tuần tuổi đến khi bắt đầu đẻ: 9 – 30 tuần

Trong giai đoạn này ngỗng phát triển đưới điều kiện khí hậu tự nhiên không đòi hỏi ngặt ngèo nhưng phải lưu ý trong thời gian này khi ngỗng thay lông rất mẫn cảm với nhiệt độ thấp và mưa. Ngỗng nuôi thức ăn hạn chế, cả về số lượng và chất lượng, chăm sóc nuôi dưỡng làm sao đạt khối lượng ở mức yêu cầu của giống để đảm bảo có năng suất đẻ trứng cao trong giai đoạn sinh sản.

* Ánh sáng và chế độ chiếu sáng:

Giai đoạn từ 9 tuần đến trước khi ngỗng đẻ 5 tuần sử dụng ánh sáng tự nhiên. Sau đó tăng dần thời gian chiếu sáng cho ngỗng như sau:

Trước khi đẻ 4 - 5 tuần đảm bảo thời gian chiếu sáng 7 - 8 giờ/ngày.

Sau đó mỗi tuần tăng 1 giờ cho tới khi đạt mức thời gian chiếu sáng 9 - 11 giờ/ngày.

* Cung cấp nước:

            Ngỗng hậu bị cần nước để uống nếu nuôi nhốt trên khô hoặc nuôi khô trên vườn thì cần phải cung cấp nước uống cho đủ, thường xuyên, sạch sẽ. Nhu cầu nước uống cho ngỗng mỗi ngày cho mỗi con cần từ 0,5 - 0,6 lít/con.

* Chăm sóc nuôi dưỡng:

Giai đoạn hậu bị nuôi cho ngỗng ăn hạn chế cả về số lượng và chất lượng thức ăn, cho nên lượng thức ăn hàng ngày chỉ đổ 1 lần hết lượng thức ăn đó, cho ăn sao cho tất cả ngỗng trong đàn đều được ăn giống nhau. Độ đồng đều càng cao về khối lượng ngỗng trong đàn thì sau này năng suất sinh sản càng cao. Nếu cho ăn thêm rau xanh thì cho ăn rau xanh sau khi cho ăn thức ăn tinh.

Khối lượng ngỗng trong giai đoạn hậu bị chuẩn cho từng giống là:

Tuần tuổi

Khối lượng ngỗng trống (Kg/con)

Khối lượng ngỗng mái (Kg/con)

10

4,0 – 4,2

3,8 – 3,9

12

4,1 – 4,3

3,9 – 4,1

14

4,5 – 4,7

4,1 – 4,2

16

5,0 – 5,2

4,4 – 4,6

18

5,3 – 5,5

4,7 – 4,9

20

5,6 – 5,8

5,0 – 5,2

22

5,9 – 6,0

5,3 – 5,5

24

6,2 – 6,4

5,6 – 5,8

26

6,4 – 6,6

5,8 – 5,9

28

6,6 - 6,7

5,9 - 6,0

30

6,7 - 6,8

6,0 - 6,1

6.3. Giai đoạn sinh sản:

* Điều kiện khí hậu:

             Tạo điều kiện khí hậu thích hợp cho ngỗng đẻ. Nhiệt độ thích hợp nhất đối với ngỗng đẻ là 16 - 24 oC và ẩm độ là 60 - 70%. Chuồng nuôi và ổ đẻ phải luôn khô ráo và sạch sẽ.

* Ánh sáng và chế độ chiếu sáng:

            Trong suốt giai đoạn ngỗng đẻ cần thời gian chiếu sáng mỗi ngày 9 - 11 giờ. Thời gian chiếu sáng không đảm bảo sẽ làm giảm năng suất trứng. Cường độ  chiếu sáng là 5 w/m2.

* Cung cấp nước:

Nhu cầu nước uống cần cho ngỗng giai đoạn sinh sản từ 0,6 - 0,7 lít/con/ngày. Ngỗng nuôi có mương bơi hoặc nuôi trên khô có máng uống đều phải sử dụng nước sạch và đủ nước. Nếu không đủ nước hoặc với một lý do nào đó ngỗng không uống nước sẽ dẫn đến không ăn và cuối cùng là không đẻ. Khi để máng uống ở ngoài chuồng nuôi mùa hè phải che máng uống, tránh để ngỗng uống nước nóng, thường xuyên thay nước uống cho ngỗng.

* Chăm sóc nuôi dưỡng

Chuồng phải sạch sẽ và khô ráo độn chuồng phải dày 10 - 15 cm, hàng ngày cho thêm độn chuồng đặc biệt là vị trí ổ đẻ.

Chuyển từ thức ăn ngỗng hậu bị sang thức ăn ngỗng đẻ được tiến hành 2 tuần trước khi ngỗng đẻ và tăng lượng thức ăn lên 10%, khi ngỗng đẻ quả trứng đầu tiên tăng lượng thức ăn lên 15%. Khi đàn đẻ 5% tăng dần lượng thức ăn sao cho 7 ngày sau trở đi ngỗng ăn tự do theo nhu cầu ở ban ngày, phải đổ thức ăn làm nhiều lần trong ngày (2 - 3 lần) để thức ăn không bị tồn đọng ở máng ăn. Thức ăn phải đảm bảo chất lượng, máng ăn phải để trong chuồng nuôi tránh mưa và sương làm mốc thức ăn, nếu nuôi nhốt trên vườn cây phải để máng ăn ở vị trí cố định và phải có che mưa nắng.

Hạn chế tác động mạnh về ánh sáng, âm thanh và những tác động bất thường khác đến đàn sinh sản để tránh hiện tượng đẻ non và đẻ trứng hai lòng.

Ngỗng nuôi trên khô phải lưu ý vệ sinh sân chơi luôn sạch sẽ để tránh được khi ngỗng giao phối xong thì gai giao cấu bị chạm xuống nền chuồng và sân chơi bị nhiễm trùng nhiễm bẩm dẫn đến hao hụt con đực nhiều.

* Thu nhặt trứng:

Chất độn ổ đẻ phải được bổ sung thường xuyên vào các vị trí của ổ đẻ, suốt giai đoạn ngỗng đẻ chỉ cần bổ sung không cần thay độn chuồng, ngỗng đẻ tập trung vào thời gian 3 - 5 giờ hàng ngày vì vậy trứng được thu nhặt vào buổi sáng từ 6 - 7giờ. Sau khi nhặt trứng nếu trứng bẩn phải rửa bằng thuốc sát trùng hoặc xông sát trùng sau đó trứng để ấp được đưa vào bảo quản. Nếu không có kho lạnh thì bảo quản bằng than hoa.

* Kiểm tra sức khoẻ đàn ngỗng:

Hàng ngày buổi sáng kiểm tra tình hình đàn ngỗng nếu có sự thay đổi khác thường báo cho thú y xử lý.

Trong giai đoạn ngỗng sinh sản cần loại những con ngỗng quay lông (rụng lông ống ở cánh và đuôi) vì những con đó năng suất trứng rất thấp, khi ở thời điểm thay lông thì không sinh sản. Đồng thời loại những con có màu lông, màu mỏ và màu chân không nhạt đi sau một thời gian đàn đã đẻ vì những con đó đẻ cũng rất kém.

7. Công tác thú y.

7.1. Vệ sinh  chuồng  trại và thiết bị chăn nuôi :

    Chuồng  trại  đảm  bảo  thoáng  mát  về  mùa  hè , ấm  về  mùa  đông, duy  trì mật  độ đúng yêu cầu  và  đủ  diện  tích  sân  chơi như  đã  qui định ở phần  trên.

- Phải thực hiện nghiêm túc đầy đủ luật lệ về công tác phòng trừ dịch bệnh, trước cửa chuồng nuôi phải có hố khử trùng. Trong chuồng nuôi chỉ nên có 1 loại ngỗng và nếu có 2 đàn thì chỉ nên cách nhau không quá 7 ngày tuổi.

- Chuồng nuôi phải có chu kỳ luân chuyển hàng năm để có thời gian xử lý và trống chuồng. Ngỗng nhập về phải nuôi cách ly từ 15 - 20 ngày và giữ đúng các nguyên tắc thu y quy định.

- Chuồng trại, trang thiết bị chăn nuôi phải được rửa để khô ráo xung quanh chuồng nuôi phải vệ sinh công nghiệp sau đó tiến hành vệ sinh tiêu độc định kỳ bằng một số thuốc sát trùng.

+ Vôi  bột: rải vôi bột xung quanh và bên trong chuồng nuôi  sau đó  phải  để  2 - 3  ngày rồi quét dọn lại lần nữa (Biện pháp này ít dùng vì dễ làm cho ngỗng hô hấp  hít phải bụi vôi  bột).      

+ Nước vôi: dùng nước vôi mới tôi quét nền chuồng, sân chơi và xung quanh tường phải để khô mới rải độn chuồng và đưa ngỗng vào .

 + Dùng Formol (1 - 3 %):  Phun toàn bộ  nền và tường chuồng.

+ Dùng Crezil  (3 - 5  %) để phun

 +  Xông hơi bằng hỗn hợp formol và thuốc  tím liều lượng cứ 17,5 gam thuốc tím + 35 ml Formol cho 1 m3 chuồng nuôi, khi xông hơi đòi hỏi chuồng phải kín mới có tác dụng.

             Độn chuồng: Độn chuồng bằng pho bào, trấu hoặc rơm rạ, cỏ khô cắt ngắn. Chất độn chuồng trước khi sử dụng phải được phơi khô, tiêu độc bằng các chất sát  trùng  kể  trên, ủ một ngày, sau đó rải đều cho bay hơi hết mới đưa vào  chuồng.

Máng ăn, máng uống, lò sưởi, cót  quây  ngỗng,..., phải được rửa sạch sau đó sát  trùng bằng một trong các loại thuốc sát trùng kể trên rồi chuẩn bị sẵn trong chuồng  trước khi nhập ngỗng về.

7.2.  Vệ sinh thức  ăn, nước uống

- Thức ăn: Đảm  bảo đủ về số lượng và chất lượng khẩu phần theo như phần trên đã chỉ  dẫn. Không cho ngỗng ăn các loại thức ăn  ôi, mốc. Không dùng các loại thức ăn có hàm lượng muối cao, trong thức ăn có thể sử dụng chế phẩm vi sinh như EM, dung dịch Anolit, Catolit để giảm thiểu việc ô nhiễm môi trường do chất thải của ngỗng.

  - Nước uống: Nước uống cho ngỗng phải  là nước sạch, không dùng nước đục, nước ao, hồ tù đọng, nước giếng có hàm lượng sắt cao. Có thể dùng thuốc tím 0,5 ‰  (5 gam cho 10 lít nước) để khử trùng nước uống cho ngỗng hoặc Cloramin  1%  (10 gam cho 10 lít nước). Có thể dùng Anolit; Catolit để sát trùng nước thường xuyên cho ngỗng uống.

7.3. Vệ  sinh sau  từng  đợt  chăn  nuôi  

            - Chuồng  trại  và  dụng  cụ  chăn  nuôi  được  cọ  rửa  sạch  sẽ  và  khử  trùng  tiêu độc  để  chuẩn  bị  đợt  chăn  nuôi  tiếp,  để  trống  chuồng  7 - 15  ngày.

Thực hiện tiêm phòng và dùng thuốc phòng bắt buộc theo đúng quy trình phòng bệnh cho từng loại ngỗng. Đẩy mạnh công tác phòng dịch cho các đàn ngỗng nuôi phân tán trong nông hộ.

-Thực hiện nghiêm ngặt việc phun thuốc khử trùng định kỳ trong chuồng nuôi và khu vực trang trại, gia trại 1 - 2 lần/tuần. Tuân thủ nghiêm túc các vấn đề về an toàn sinh học cho  trang trại và cho người ra vào khu vực chăn nuôi.

- Giám sát theo dõi chặt chẽ mỗi khi ngỗng ốm đau. Chẩn đoán điều trị ngay mỗi khi bị bệnh. Bao vây, khống chế, tiêu huỷ ngay đàn ngỗng tại khu vực nếu phát hiện bệnh nguy hiểm.

- Tăng cường công tác kiểm tra kiểm dịch việc vận chuyển và lưu thông ngỗng, phải xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm pháp lệnh thú y.

7.4. Xứ lý chất thải và gia cầm chết.

- Không sử dụng chất thải và phân của ngỗng khi chưa được xử lý.

- Nước thải, nước rửa chuồng trại của chăn nuôi ngỗng theo hệ thống mương tiêu thoát về đến hố chứa và phải được xử lý trước khi đưa ra môi trường bên ngoài trang trại. Nếu lượng nước thải không được xử lý kịp thời sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và không an toàn cho sản xuất.

- Phân  và  độn  chuồng  trong  quá  trình  chăn  nuôi  được  thu  gom  lại  thành đống  ở  nơi  qui  định,  xử  lý  theo  phương  pháp  nhiệt  sinh  vật sau đó mới được sử dụng cho trồng trọt.

7.5. Một số bệnh thường gặp trên ngỗng

7.5.1. Bệnh tụ huyết trùng

- Nguyên nhân: Bệnh tụ huyết trùng hay còn gọi là hoại hụyết ngỗng, do vi khuẩn Pasteurellosis gây ra. Ngỗng rất mẫn cảm với bệnh này. ở những ngỗng khoẻ mạnh vẫn có mầm bệnh.

-Triệu chứng : Thể quá cấp, ngỗng đang khoẻ mạnh, lăn ra chết.
Thể cấp tính: ngỗng uể oải, ủ rũ. Từ mỏ và lỗ mũi có tiết chất nhờn có bọt, có thể có tiếng khò khè. Lông xù, mất óng ánh. Phân màu xám, vàng hoặc xanh, đôi khi có máu, ỉa nhiều. Mào bị tím xanh, thở nhanh và khó.

- Bệnh tích: ở thể quá cấp có thanh dịch trong bao tim. trong trường hợp cấp tính tụ máu trong các lớp da bên trong và dưới da; xuất huyết ở nội tâm mạc; bao tim ứ đầy nước; viêm tá tràng; trong xoang bụng có thanh dịch; gan xưng, có nhiều điểm hoại tử, lá lách sưng; phổi viêm và có nốt sần.

- Phòng bệnh: Không nên nuôi lẫn lộn giữa vịt, ngan và ngỗng. Chuồng trại cần làm vệ sinh thật chu đáo, kể cả các dụng cụ ăn uống cần được tẩy uế sát trùng theo thời gian, nhất là khi có dịch bệnh xảy ra.

+ Dùng Streptomicin 100 - 150mg/1kg thể trọng liên tục trong 3 - 5 ngày.
+  Sunfamethazin trộng với thức ăn 0,5% hoặc hoà với nước uống 1%.

7.5.2. Bệnh dịch tả vịt lây sang ngỗng

- Triệu chứng: Điển hình là đau mắt đỏ và sưng

- Phòng bệnh: Trước hết cần cách ly đàn giống khỏi khu vực có các đàn vịt lớn hoặc đang mắc bệnh, chuồng trại cần được tiêu độc cẩn thận trước lúc nuôi đàn giống. Những nơi có ổ dịch tả vịt thường xuyên xảy ra càn tiêm vacxin dịch tả để phòng.

- Trị bệnh: Khi xảy ra bệnh thì việc điều trị là kém hiệu quả, cần tiêm ngay vacxin vào thẳng ổ dịch. Những ngỗng mắc bệnh nặng sẽ chết (20 - 50%), số còn lại trong đàn có khả năng tạo kháng thể và tồn tại, tỷ lệ chết này tuỳ thuộc và tính chất nặng nhẹ của ổ dịch. Cần lưu ý cùng với việc tiêm thẳng vacxin thì công tác tẩy uế chuồng trại cần được thực hiện nghiêm túc, xác ngỗng chết phải được chôn cùng chất sát trùng như vôi bột hoặc foocmol. Bổ sung vitmin C và vitamin B vào nước uống liều: 2g/1lít nước.

7.5.3. Bệnh phó thương hàn

- Nguyên nhân: Đặc trưng là ỉa chảy, viêm kết mạc và gầy sút. Bệnh có ở tất cả các nơi, gây chết 70 - 80% đàn gia cầm non, gia cầm lớn mắc bệnh ở thể mãn tính, làm sức đẻ trứng bị giảm sút. Gia cầm bệnh và khỏi bệnh là nguồn lây bệnh chủ yếu. Chúng có thể đẻ trứng đã bị nhiễm bệnh, nếu nhiễm nặng khi ấp phôi thai có thể chết, nếu nở được thì con cũng mắc bệnh. khi ngỗng bị quá mết do vận chuyển, chuồng trại chật trội, độ ẩm cao, bẩn, thiếu nước uống, sự biến đổi nhệt lớn sẽ phát bệnh. Sự nhiễm bệnh chủ yếu qua đường tiêu hoá, có khi qua hô hấp, qua phối giống.

- Triệu chứng và bệnh tích: Thể cấp tính: ỉa chảy, có bọt khí, viêm thanh dịch, có mủ, viêm màng kết mạc làm cho đau mắt. Cánh rủ, lông xơ, cánh khô mất lánh. Bệnh kéo dài từ 1 - 4 ngày, gây chết đến 70%. Thể mãn tính thường thấy ở gia cầm lớn: ỉa chảy, đôi khi có máu, lông khô mất ánh. Viêm lỗ huyệt, buồng trứng. trong thể mãn tính niêm mạc manh tràng thương bị phủ bởi lớp vàng dễ bóc. Túi mật sưng, đầy mật. trong lòng ruột non chứa dịch đục, đặc, màng niêm mạc thuỷ thũng, thường sung huyết, đôi khi bị phủ lớp màng như cám xám bẩn.

- Phòng và trị bệnh:

+ Dùng Biomixin liều: 5 - 10mg/lần từ 2 - 3 lần/ngày, liên tục trong 5 - 6 ngày. 
+ Có thể dùng các loại thuốc khác: Norflorxacin, TA.vimicin...(theo hướng dẫn của nhà sản xuất).

Không dùng trứng của các ngỗng mẹ có bệnh để ấp.

7.5.4. Bệnh cắn lông, rỉa lông

- Nguyên nhân: Bệnh thường xảy ra ở các đàn ngỗng nuôi nhốt chật trội, không có sân vận động, chuồng trại ẩm ướt, thiếu ánh sáng. Nhiệt độ môi trường tăng cao đột ngột, khônh khí khô, ánh nắng chói chang, hoặc do nhốt chung con lớn bé, hoặc do đưa các con mới về chuồng.

Bệnh thường xảy ra ở các đàn ngỗng đang ở lứa tuổi mọc lông vài và lông cánh. ngoài ra có thể trong khẩu phần thiếu protein nghiêm trọng, hoặc trong thời gian ngắn cho ăn quá nhiều đạm động vật, sau đó lại thiếu, hoặc trong thức ăn thiếu khoáng (lưu huỳnh, phốt pho, coban, mangan).

Có thể do các yếu tố sinh lý như sự ồn ào. Điều hết sức quan tâm đối với ngỗng con là thiếu rau cỏ. Ngỗng con hầu như suốt ngày rất cần rỉa rau, nếu không có, buồn miệng hay nhấm rỉa lông nhau. Rỉa đến khi chảy máu và màu đỏ của máu lại tăng kích thích mổ cắn lông.

- Phòng bệnh: Cần kết hợp các yếu tố tổng hợp, nhất là nuôi dưỡng và chuồng trại. Điều dễ dàng, đơn giản, đơn giản nhất là nhanh chóng tậpncho ngỗng ra sân và chăn thả ngay từ ngày tuổi thứ 7 trở đi. Phát hiện sớm các ngỗng con bị rỉa để cách ly chúng ra khỏi đàn.

- Trị bệnh: Cho ăn sunfat canxi (thạch cao) vì trong chất này chứa 23% canxi và 18% lưu huỳnh.

Cho uống nước pha 1% muối liên tục trong vài ngày có thể dập tắt được bệnh. Cho ăn bột lông và tăng cường rau xanh.

Bổ sung dầu cá hoặc vitamin A từ 5 - 10 ngày với liều 10.000 - 15.000 UI và cách nhau 15 - 20 ngày lặp lại 3 lần.

7.5.5. Bệnh rụt mỏ

- Triệu chứng

Con vật bỏ ăn sốt cao (Tăng nhiệt (45 – 46ºC), chảy dịch mũi, nước mắt liên tục, thở khó, khẹc mũi, ỉa chảy, phân xanh trăng liên tục; thở khó, khẹc mũi, có mùi tanh, dính bết hậu môn, nằm liệt và chết. Có nhiều con còi cọc, mỏ ngắn, thè lưỡi, chân đứng không vững do bị dị dạng. Mất lông,  quanh lưng và cổ, đỏ da rõ rệt.

- Bệnh tích

Cơ tim, gan, thận viêm sưng và nhạt màu. Xoang bụng chứa nhiều tương dịch, có khi đặc như genlatin. Thoái hóa xương, hoại tử đầu khớp và đi đứng khó khăn. Viêm, xuất huyết niêm mạc ruột, có fibrin, tích nuốc trong xoang ngực.

- Điều trị bệnh

Tiêm kháng thể rụt mỏ ở 1 ngày tuổi để phòng bệnh. Khi bệnh diễn ra có thể điều trị triệu chứng Hạ sốt: Sử dụng paracetamol hạ sốt cho toàn đàn
Xương giòn, dễ gẫy, bại chân: Lưu ý bổ sung khoáng chất, đặc biệt là Ca, P… Trong quá trinhfcan thieepk, trợ sức, trợ lực: Bổ sung các vitamin tổng hợp, khoáng chất, men tiêu hoá (kích thích mọc lông, sinh trưởng…)

7.6.  Lịch phòng bệnh và tiêm

Ngày  tuổi

Vaccin , thuốc  kháng  sinh  và  cách  dùng

 

1-3

Phòng  chống  nhiễm  trùng  rốn, các  loại  bệnh  đường ruột  và  chống  các  stress  bằng  các  loại  kháng sinh như Ampi-Coly, Tetracycline , Streptomycine, Neox, Neotesol . . . Bổ  sung  vitamin  như :  B1 , Bcomlex , ADE  hay  dầu cá .                      

 

7 - 10

- Phòng vắc xin viêm gan siêu vi trùng : uống hoặc nhỏ hoặc tiêm

- Tiêm  phòng  vaccin  dịch  tả  lần  1  tiêm  dưới  da (cổ hay  cánh)

 

15-18

- Phòng vaccin H5N1 lần 1

- Bổ  sung  vitamin  và  kháng  sinh  phòng  bệnh  và  chống stress  sau  tiêm  phòng

 

28-46

- Phòng  bệnh  Ecoli, tụ  huyết  trùng , phó  thương  hàn  bằng các loại  kháng  sinh , Sulphamide  và  bổ  sung  vitamin .

- Có  thể  tiêm  phòng vắc xin  tụ  huyết  trùng  cho  ngỗng .

- Phòng vắc xin H5N1 lần 2

 

56-60

- Tiêm  phòng  vắc xin  dịch  tả lần  2 .

- Tiêm phòng vắc xin viêm gan siêu vi trùng lần 2

 

70 - 120

- Phòng  bệnh  bằng  kháng  sinh, bổ  sung  vitamin theo  định  kỳ  1 - 2  tháng/lần liệu  trình  3 - 5  ngày

135 - 185

- Tiêm  vắc xin  dịch  tả  lần  3

- Tiêm phòng vắc xin viêm gan siêu vi trùng lần 3

- Bổ  sung  vitamin  và  kháng  sinh  phòng  bệnh định  kỳ  1 - 2  tháng/lần liều  trình  3 - 5  ngày  trong thời  kỳ  đẻ  trứng

180 - 200

Phòng vaccin H5N1 lần 3

Sau  khi  đẻ  4 - 6  tháng

- Ngỗng đẻ được 4 - 5 tháng tiêm phòng vắc xin H5N1 lần 4

- Ngỗng đẻ được 5 - 6 tháng tiêm vắc xin  dịch  tả và viêm gan lần 4

- Phòng bệnh bằng kháng sinh định kỳ  1-2 tháng / lần

Ngày đăng: 03/08/2020 Tác giả: Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên - Số lần được xem: 44

CSDL Nông nghiệp


ĐƠN VỊ THUỘC CƠ SỞ


Liên kết website