Kỹ thuật trồng Hoa Địa Lan


Kỹ thuật trồng hoa địa lan

1. Một số loài địa lan trồng phổ biến ở nước ta

- Lan Lô Hội (Cymbidium Aloifolium): Lan phụ sinh, giả hành nhỏ, lá nhiều, dày, dài lá 30 - 50 cm, đầu lá chia 2 thuỳ không bằng nhau. Cọng phát hoa từ đáy giả hành, có từ 10 - 20 hoa, kích thước hoa 4 - 6 cm, ra hoa vào tháng 10 - 12. Phân bố dưới độ cao 1000 m.

- Thanh lan (Cymbidium Cyperifolim): Lan địa sinh, giả hành nhỏ từ 1 - 2 cm. lá hẹp, dài lá 50 - 60 cm, rộng 0,8 - 1 cm, đầu nhọn. Cọng phát hoa từ gốc giả hành, cao 30 - 40 cm, đứng, mang 6 - 8 hoa, hoa to, có mùi thơm. Ra hoa từ tháng 12 - 2. Phân bố ở độ cao 1000 m.

- Lan xích Ngọc (Cymbiđium Dayanum): Là lan phụ sinh, giả hành bầu dục, lá hẹp, nhọn, dài 90 - 12 cm, rộng 0,7 - 1 cm. Phát hoa thẳng xuống, ngắn hơn lá, mang 10 - 12 hoa, hoa lớn đường kính 7 cm, có lá bắc nhỏ. Lá đài dài 3 cm, dạng mũi mác, màu hơi trắng, có vài sọc đỏ tím đậm ở giữa. Ra hoa từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau. Phân bố từ 600 - 1500 m.

- Bạch lan (Cymbidium Eburneum Reichb): Là lan phụ sinh, giả hành được che bởi các bẹ lá. Lá hẹp, dài 40 - 50 cm, rộng 1 - 1,5 cm, màu xanh sáng, có cuống rất ngắn. Cọng phát hoa thẳng đứng, dài 50 - 60 cm, mang 2 - 3 hoa, hoa có mùi thơm, hoa lớn 10 cm. Ra hoa khoảng tháng 9 - 11. Phân bố từ 1.400 m trở lên.

- Mạc lan (Cymbidium Ensifolium Swartz): Thuộc loại địa sinh, bụi dày, giả hành nhỏ, được các bẹ lá che lại. Lá nhiều, dài, nhọn, có 3 - 5 gân lồi ở mặt dưới lá. Dài 65 - 85 cm, rộng 2,5 - 3 cm. Phát hoa từ bẹ lá, cao 25 - 40 cm, mang 6 - 10 hoa, hoa to, có mùi thơm. Ra hoa từ tháng 8 - 12. Phân bố ở độ cao 1.400 m.

- Mạc biên (Cymbidium Sinensis): Thuộc loại địa sinh, bụi dày, giả hành nhỏ, được các bẹ lá che lại. Lá nhiều, dài, nhọn, có 3 - 5 gân lồi ở mặt dưới lá. Lá có viền vàng xung quanh. Dài 65 - 85 cm, rộng 2,5 - 3 cm. Phát hoa từ bẹ lá, cao 25 - 40 cm, mang 10 - 15 hoa, hoa to, có mùi rất thơm. Ra hoa từ tháng 8 - 12. Phân bố ở độ cao 1.400 m.

- Hoàng lan (Cymbidium Giganterum Wall): Thuộc loại địa sinh hay phụ sinh, giả hành cao 10 - 15 cm. Lá xanh đậm, dạng gươm, dài 50 - 90 cm. Rộng 2 - 3 cm, các gân phụ kéo dài đến 2/3 lá. Phát hoa từ giả hành, gần thẳng, đầu hơi cong, dài 60 - 100 cm, mang 7 - 12 hoa, hoa to 6,5 - 12 cm, ra hoa tháng 2 - 5. Phân bố ở độ cao 1.350 m.

- Hồng lan (Cymbidium Insigne Rolfe): Thuộc loại địa sinh, giả hành to. Lá hẹp, dạng dài, dài 75 - 90 cm, rộng 1,5 - 2 cm. Phát hoa thẳng, cao trên 100 cm, mang 10 - 15 hoa, hoa to đến 12 cm. Cánh hoa và lá dài, thon, nhọn, mép uốn lượn, dài 4,5 cm, rộng 1,5 cm, trắng hồng với những sọc đậm. Hồng lan ra hoa tháng 2 - 5. Phân bố ở độ cao 1.500 m.

2. Kỹ thuật trồng địa lan Cymbidium.

Địa lan thường được trồng vào chậu. Có thể chia ra các giai đoạn sau:

2.1. Thời kỳ lan chưa trưởng thành

- Giai đoạn dưới 3 tháng tuổi:

            Cây lan con thường được nuôi cấy In vitro. Thời vụ ra cây con tốt nhất từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Cây con rút từ ống nghiệm ra được rửa thật sạch bằng nước ấm, ngâm trong dung dịch thuốc trừ nấm Rovral 2/1000 hay Zineb 2/1000 trong 30 phút, vớt ra để ráo nước. Trồng chung trong khay trên giá thể dừa xé nhỏ, ánh sáng trực tiếp dưới 30%, che mưa, tưới 2 ngày một lần. Phun dung dịch N:P:K (30:10:20) 1/1000 (1g/ lít) cho vừa ướt lá, 1 tuần 1 lần. Phun thuốc trừ nấm và sâu 1 đến 2 tuần 1 lần. Thường sau 3 tháng cây ra rễ 3 - 5 cm, chuyển ra trồng riêng.

- Giai đoạn từ 3 tháng đến 1 năm tuổi:

            Trồng cây con trong bầu nilon đường kính 10 - 15 cm, trên giá thể dừa xé nhỏ trộn 1/5 vỏ thông. Che cây con, để ánh sáng trực tiếp dưới 50%. Thời tiết hanh khô tưới 2 ngày 1 lần, mưa không tưới, sau 3 ngày không mưa phải tưới bổ sung. Phun dung dịch N:P:K (30:10:20) 1/1000 mỗi tuần 1 lần trong mùa mưa ẩm và 2 tuần 1 lần trong mùa hanh khô. Phòng trừ sâu bệnh, phun thuốc 2 tuần 1 lần hay nhiều hơn tùy theo mức độ cây nhiễm bệnh nhiều hay ít.

- Giai đoạn 1 đến 2 năm tuổi:

            Chuyển cây từ bầu nilon ra chậu có đường kính 30 - 35 cm. Giá thể 2/3 dừa + 1/3 vỏ thông. Để cây dưới ánh sáng trực tiếp dưới 50%. Tưới và phun dinh dưỡng như giai đoạn trước. Có thể thay việc phun dinh dưỡng lên lá bằng cách bón trực tiếp vào chậu. Dùng 2 g N:P:K (30:10:20) cho 1 lít giá thể, rải sát mép chậu, tránh rải vào gốc, 1 tháng bón 1 lần trong mùa sinh trưởng. Phòng trừ sâu bệnh như trước.

- Giai đoạn 2 đến 3 năm tuổi:

            Chuyển cây sang chậu có đường kính 40 - 50 cm. Nên trồng vào các chậu đã được nung chín, kích thước chậu cân đối với khả năng phát triển của cây. Có nhiều lỗ thoáng (cho rễ mập và cây có rễ gió nhiều). Chậu phải sạch hoặc phải rửa sạch trước khi trồng. Nếu dùng chậu cũ đã trồng rồi thì phải đốt chậu để khử trùng trước khi trồng. Thành phần giá thể 1/2 sơ dừa + 1/2 vỏ thông hay 1/3 sơ dừa + 2/3 vỏ thông. Ánh sáng 50%  ánh sáng tự nhiên. Dinh dưỡng, nước và phòng trừ sâu bệnh như giai đoạn trước. Từ giai đoạn này, cây bước vào giai đoạn sẵn sàng cho hoa.

2.2. Thời kỳ khai thác hoa

            Hầu hết Cymbidium ra hoa ổn định mỗi năm 1 lần từ đầu năm thứ 3 trở đi. Hoa nở rộ từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, có giống ra hoa sớm từ tháng 11, giống muộn ra hoa từ tháng 3 - 4. Có những giống ra hoa mùa hè hoặc mùa thu. Ngoài ra, cùng 1 giống tùy điều kiện chăm sóc và tình trạng của cây mà mà cây có thể ra hoa sớm hay muộn hơn từ 1 - 2 tháng.

Dựa trên hình thái và dựa theo từng thời kỳ sinh trưởng phát dục của cây trong 1 năm, từ đó có kỹ thuật chăm sóc thích hợp với yêu cầu của cây lan.

Về hình thái, có thể mô tả chu kỳ sinh trưởng phát triển của Cymbidium như sau: Khởi đầu cây mẹ chỉ là một chồi phát triển rễ, lá và bẹ lá. Khi cây hình thành giả hành cũng chính là lúc cây bắt đầu phân hóa hoa (chồi hoa xuất hiện ở nách lá). Đồng thời hay có thể sớm hơn hay muộn hơn một ít cây mẹ cũng sinh chồi mới (chồi con). Hai chồi này phát triển song song, nhưng chồi hoa thường mọc nhanh hơn. Cây mẹ cũng tăng trưởng dần, giả hành phát triển rừ rệt. Đến khi giả hành và bộ lá đạt 80% kích thước cây trưởng thành thường cũng là lúc hoa nở. Vào thời điểm này, chồi con chỉ đạt từ 20 - 30% kích thước so với cây mẹ.

Trong thời gian hoa nở, từ 1,5 - 2 tháng, cây mẹ vẫn tiếp tục hoàn chỉnh dần giả hành và lá. Khi hoa tàn, cây mẹ đó đạt mức trưởng thành hoàn toàn. Cây nghỉ một thời gian, trong giai đoạn nghỉ này cây vẫn tiếp tục tích lũy dinh dưỡng và nước vào giả hành. Khi vào mùa tăng trưởng, chồi con phát triển nhanh chóng để sau đó 2 - 3 tháng sẽ tạo chồi hoa và chồi con thế hệ tiếp theo.

Sau khi chồi con ra hoa, cây mẹ rụng dần bộ lá, cuối cùng chỉ còn lại một giả hành, sống tiềm ẩn. Thực ra, giả hành này vẫn tiếp tục cung cấp dinh dưỡng cho cây con và sẽ ở một tình trạng này cho đến khi được tách khỏi cây con. Khi ấy từ giả hành tách rời này sẽ mọc ra một hay vài chồi con mới, nhận chất dinh dưỡng trực tiếp từ củ già để phát triển cho đến khi trở thành một cây hoàn chỉnh.

Một chu kỳ sinh trưởng phát triển của Cymbidium được đánh dấu từ vụ hoa này đến vụ hoa tiếp theo, chiếm trọn 1 năm. Chu kỳ này gắn liền với những chuyển biến thời tiết trong năm. Vì vậy có thể chia chu kỳ thành từng mùa trong năm. Vào mỗi mùa, cây có những đặc điểm sinh trưởng phát triển đặc thù mà người trồng lan cần dựa vào để tác động thêm những biện pháp kỹ thuật nhằm đạt năng suất hoa cao nhất. Có thể chia chu kỳ này ra 3 mùa chính:

- Mùa sinh trưởng mạnh:

Từ tháng 4 - 10 mưa nhiều, ẩm độ không khí cao, nhiệt độ cao, nên rễ, chồi con, lá và giả hành phát triển mạnh. Từ tháng 4 - 6, thân lá và bộ rễ tăng trưởng nhanh chóng. Vào tháng 6 cây bắt đầu phân hoá chồi hoa và chồi hoa này sẽ xuất hiện ở nách lá trong khoảng giữa tháng 7 - 8 (đối với những giống ra hoa từ tháng 12 - 2). Chồi con cũng bắt đầu phát triển với tốc độ chậm, nhu cầu về nước, phân bón, ánh sáng ở giai đoạn này là cao nhất. Cây yêu cầu đạm cao từ tháng 4 - 6 để phát triển thân lá, yêu cầu về lân cao từ tháng 6 - 10 để phân hóa hoa và phát triển hoa, yêu cầu về kali cao vào cuối mùa sinh trưởng (từ tháng 10). Ở giai đoạn này hầu như không cần phải che bớt ánh sáng trực tiếp vỡ nhu cầu của cây cao, trong khi số giờ nắng trong ngày lại thấp. Tốt nhất mở giàn che để cây hưởng 100% ánh sáng trực tiếp. Nếu có hiện tượng vàng lá và cháy lá thì che lại 50% trong vũng 10 ngày, sau đó lại mở ra. Trong mùa này cây sử dụng nước mưa là chính, tuy nhiên trong những đợt ngắn hạn (không có mưa từ 1 tuần trở lên) cần tưới bổ sung.

- Mùa ra hoa:

Được kể từ khi hoa trổ ra khỏi bao hoa cho đến khi hoa tàn (từ tháng 11 đến cuối tháng 2). Trong mùa này, nhiệt độ thấp dần và đạt cực tiểu vào tháng 12. Lượng mưa ít dần và đến tháng 12 hầu như dứt hẳn, ẩm độ không khí giảm. Thời gian này chồi hoa vươn cao rất nhanh, nụ hoa thoát khỏi lá hoa, số cành hoa trên một cây và số hoa trên một cành đó ổn định. Hoa nở từ tháng 1 - 2. Chồi con phát triển chậm. Từ tháng 11 khi hoa sắp nở, nhu cầu về phân bón, nước giảm. Chủ yếu tưới vừa ướt lá và mặt đất trong vườn để giữ ẩm không khí. Ánh sáng trực tiếp chỉ cần dưới 50%, chế độ sáng này giúp hoa lâu tàn và nở hoàn toàn, bộ lá trở lại xanh đậm. Không nên để cành hoa nở hoàn toàn trên cây quá 3 tuần vỡ cú thể làm cây mất sức. Sau khi hoa tàn, cây bước vào mùa nghỉ.

- Mùa nghỉ:

Được kể từ sau khi hoa tàn cho đến khi bắt đầu mùa xuân (khoảng cuối tháng 2 - 4). Giai đoạn này rất ẩm ướt, nhiệt độ có tăng nhưng biên độ nhiệt giữa ngày và đêm cũng cao, khụng khớ ẩm và đôi khi có gió rét. Cây mẹ tiếp tục hoàn chỉnh thân lá, chồi con phát triển chậm, chủ yếu dựa vào nguồn dinh dưỡng của giả hành mẹ. Nhu cầu về dinh dưỡng, nước, ánh sáng thấp nhất. Nên ngưng bón phân cho cây, che giàn 30-40% ánh sáng trực tiếp, tưới ít để giữ độ ẩm cho vườn lan. Tiến hành thay chậu, thay giá thể, tách chiết cây và củ già. Giai đoạn nghỉ này rất cần thiết, có phần quyết định năng suất hoa cho năm sau. Tưới nước và bón phân nhiều có thể làm giảm khả năng ra hoa của cây. Giả hành cây mẹ có thể mất một phần nước, hơi nhăn, điều đó cũng không ảnh hưởng đến cây. Một vài trận mưa đầu mùa trong tháng 4 - 5 báo hiệu chấm dứt mùa nghỉ, cây bước vào mùa sinh trưởng.

3. Kỹ thuật chăm sóc lan

- Đối với lan con

            Lan con lúc mới đưa từ bình nuôi cấy In vitro ra rất yếu, chưa thể thích ứng nhanh chóng với những thay đổi đột ngột của môi trường chung quanh, vì vậy phải chăm sóc lan con hết sức cẩn thận.

+ Giàn che

Giàn che cho lan con phải lưu ý đến các yếu tố về ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, độ thông thoáng. Giàn che phải có điều kiện gần giống với lúc cây còn ở trong chai cấy như ánh sáng vừa phải, che được mưa, tránh được gió lộng, sự chênh lệch về nhiệt độ trong ngày không đáng kể. Vì vậy phải làm giàn che cho lan con tuỳ thuộc vào địa thế của vườn và các loại vật liệu để có thể tránh gió lộng ở những nơi quá trống trải nhưng cũng tránh quá kín làm hấp hơi, khiến cây lan dễ bị thối. Để tránh mưa, mái che có thể dùng bằng tôn hay nilon cho những cây lan con mới đưa ra khỏi bình còn trồng vào chậu chung. Những cây lan con đã trồng vào chậu riêng có thể để dưới giàn che. Dưới giàn che nên tạo một lớp lưới ô vuông để giảm cường độ ánh sáng và tránh tác hại của những giọt nước mưa to, nặng có thể làm nát lan con. Để đảm bảo độ ẩm, phía dưới giàn nền có thể đào ao, trồng dương xỉ.

+ Tưới nước

Tưới nước cho lan con phải hết sức thận trọng, sau khi trồng 1 - 2 ngày không cần tưới nước ngay vì chất trồng vừa mới rửa, mới ngâm còn giữ độ ẩm cao, nếu tưới nước ngay hay tạo độ ẩm cao cây dễ bị thối. Thường tỷ lệ cây chết ở giai đoạn này rất cao vì bị dư thừa nước, vì vậy yêu cầu người trồng lan phải thường xuyên quan sát môi trường trồng còn ẩm hay đã khô, khô ở đáy chậu hay trên mặt, thời tiết hôm đó thế nào để xử lý đúng chế độ tưới nước cho lan con.

Một điều cần lưu ý nữa là lan con mới đưa ra khỏi chai ít ngày, lá thường bị héo phải tưới nước hết sức nhẹ nhàng bằng vòi phun sương, mịn hạt, thường xuyên tưới nước 3 - 4 lần mỗi ngày nếu quá khô. Nguyên tắc là phải giữ ẩm cho lan con nhưng không quá ướt.

+ Bón phân

Khi rễ lan mới ló ra thì bắt đầu bón phân và tăng lượng nước tưới. Nguyên tắc bón phân cũng phải từ nồng độ thấp đến nồng độ cao. Mỗi tuần từ 1 - 2 lần còn tuỳ thuộc vào môi trường trồng, chất trồng và sự phản ứng của cây lan mà ta quan sát được.

+ Phòng trừ sâu bệnh

Với lan con thường chỉ có bệnh thối nhũn(damping off) ở các chậu do quá dư thừa nước. Có thể dùng Champion, Funzugan-OH, Zineb… để phòng trừ. Cần đề phòng đến ốc sên, gián... cắn phá cây lan con ở tất cả các phần từ rễ đến lá, dùng Malathion để diệt rệp trắng, rầy ở dưới chậu, trong chất trồng.

- Đối với cây lan trưởng thành

            Để giúp cây lan phát triển tốt thì tại bất kỳ vườn lan nào cũng cần thực hiện tốt các công việc sau:

+ Giàn che

Dùng để duy trì bóng mát, tránh ánh sáng trực tiếp vào lúc trưa hay trời mưa quá mạnh. Nghĩa là giàn che phải điều chỉnh được cường độ ánh sáng cho phù hợp với nhu cầu của cây lan. Giàn che cao khoảng 2,5 - 4m, mái che nằm ngang hay nghiêng nhưng các nẹp che phải đặt theo hướng Bắc - Nam để khi mặt trời di chuyển trong ngày theo hướng Đông-Tây thì bóng của các nẹp che sẽ không di chuyển, luôn luôn che được cho cây lan.

Giàn che nên đặt theo hướng Bắc - Nam là tốt nhất, để vườn lan có thể nhận được nhiều ánh sáng ban mai. ánh sáng buổi sáng tốt với cây lan hơn ánh sáng buổi chiều, vì ánh sáng buổi sáng làm nhiệt độ tăng từ từ, cây lan không bị sốc nhiệt. ánh sáng buổi chiều  là lúc môi trường đang nóng, vì tất cả đang toả nhiệt sau khi tiếp nhận ánh nắng gay gắt của buổi trưa.

+ Tưới nước

Tưới nước là một việc tưởng như là rất đơn giản, nhưng tưới nước đủ để cho cây sinh trưởng, phát triển tốt là hết sức khó. Tưới nước thiếu, lan sẽ khô héo dần rồi chết, nhưng tưới nước thừa lại làm cho bộ rễ lan ẩm ướt, thiếu ôxi, không hấp thụ được chất dinh dưỡng, bộ rễ thối lâu cây sẽ chết. Việc tưới nước phải đảm bảo hài hoà với nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng và việc tưới nước còn liên quan đến các yếu tố:

* Theo mùa: Về mùa mưa (xuân và hè) độ ẩm tương đối cao, thuận tiện cho việc phát triển của cây lan. Mùa này lượng nước mưa đã cung cấp tương đối đầy đủ nhu cầu nước của lan. Vì vậy vào mùa này, tưới nước cho lan cần phải cân nhắc thật kỹ về lượng nước tưới và số lần tưới. Về mùa khô (thu và thu đông), độ ẩm không khí thấp, đây là thời kỳ nghỉ của một số loài lan. Sự nghỉ ấy là cần thiết cho sự phát triển của chồi hoa và sự tăng trưởng mãnh liệt sau đó. Cho nên không nên tưới nước nhiều vào thời kỳ này. Sự nghỉ xảy ra khi chúng bắt đầu có hiện tượng rụng lá, bởi vậy vào các ngày khô hạn, nhiệt độ cao cũng phải tăng số lần tưới nước.

* Theo thời kỳ sinh trưởng: Thời kỳ sinh trưởng khác nhau của lan Cymbidium, thì nhu cầu nước cũng khác nhau. Cây có nhiều lá, lá to dễ mất nước do thoát hơi nước qua lá nên cần lượng nước tưới nhiều hơn. Cây mập, lá dày chịu hạn khá hơn nên số lần tưới nước cần ít hơn. Những cây có nhiều rễ gió cần tưới nước thường xuyên hơn. Thời kỳ ra hoa, ra rễ, đâm chồi cây cần nhiều nước hơn nên phải tưới gấp 2 - 3 lần bình thường. Vào thời kỳ cây nghỉ, cần lượng nước ít hơn nhưng phải giữ ẩm xung quanh vườn lan.

* Theo chất trồng và môi trường trồng lan: Tuỳ thuộc vào cường độ ánh sáng giàn che, độ thông thoáng của vườn lan, chất trồng lan và loại chậu... Tất cả đều liên quan đến độ ẩm, do đó cách tưới cho lan phải thật linh động. Nếu nắng nhiều, gió nhiều, chậu thoáng, chất trồng giữ nước kém thì phải tưới nhiều lần hơn và ngược lại. Cách tưới tốt nhất cho lan là tưới nhỏ giọt, nước rơi vào gốc lan, tưới sẽ không làm chấn thương lá, cây, có thể tưới bằng bình xịt hay vòi bơm. Thường thì tưới vào buổi sáng và buổi chiều mát, nếu trời quá nóng thì tăng số lần tưới và lượng nước cũng phải tăng lên, tránh tưới ít nước làm nóng, bỏng cây. Vào buổi trưa nắng gắt nên làm ẩm môi trường hơn là tưới trực tiếp vào cây lan. Cũng cần chú ý nguồn nước tưới, có thể dùng nhiều nguồn nước tưới cho lan nhưng phải đảm bảo nước phải sạch không phèn, không mặn, độ pH thích hợp khoảng 5,5 - 7. Có thể dùng nước mưa là nguồn nước lý tưởng nhất vì vừa sạch vừa kinh tế, độ pH là 6 - 7 rất phù hợp cho lan. Nước ao hồ phải xem độ pH, nhất là độ phèn ở các ao hồ mới đào, nước phải đảm bảo vệ sinh. Nước sông, suối là nguồn tưới tốt nhưng phải chú ý đến độ phù sa, độ phèn, mặn. Nước máy chú ý đến lượng clo và nồng độ muối. Nước giếng phải xem xét đến độ cứng, độ phèn và độ pH. Không nên dùng nước quá nóng hay quá lạnh để tưới cho lan.

+ Bón phân

Việc bón phân cho lan là hết sức cần thiết. Thường chủ yếu là 3 nguyên tố chính N,P,K với nhiều tỷ lệ tuỳ theo mục đích sử dụng, loài lan, thời kỳ sinh trưởng của lan. Ngoài ra còn có thể kết hợp thêm các nguyên tố vi lượng như đồng (Cu), sắt (Fe), kẽm (Zn).. và một số vitamin cần thiết khác.

* Tỷ lệ phân: Thường sử dụng các  tỷ lệ phân

1:1:1                 tỷ lệ N:P:K bằng nhau.

3:1:1                 tỷ lệ N cao.

1:3:1                 tỷ lệ P cao.

1:1:3                 tỷ lệ K cao.

Ngoài ra, còn nhiều tỷ lệ khác như 3:1:2; 3:2:1...

* Nồng độ phân: Trong mỗi tỷ lệ, nồng độ N, P, K cũng thay đổi

Ví dụ theo công thức của Le Confle (1981) ta có:

Công thức cao:   30 - 10 - 10 (50)       tỷ lệ    3:1:1              để tăng trưởng và ra lá

Công thức thấp:  10 - 18 - 10 (38)       tỷ lệ    1:2:1              cho ra hoa

Công thức thấp:  10 - 10 - 20 (40)       tỷ lệ    1:1:2               cho ra rễ

Tuy nhiên, lượng phân bón này hết sức linh động phụ thuộc vào thời tiết như độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ.., tuỳ thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng của cây mà điều chỉnh lượng phân cho thích hợp.

Ngoài ra, còn có thể sử dụng các loại phân bón hữu cơ hoai mục như nước tiểu, phân động vật, xác bã động vật, khô dầu... Các loại phân hữu cơ này rất tốt đối với lan, nhưng khi dùng phải chú ý đến cách tưới, nồng độ tưới, tránh gây hại cho lan.

+ Cách tưới phân

Có rất nhiều cách tưới phân nhưng nguyên tắc chung là phải đạt được hai yêu cầu là sao cho cây hấp thụ được nhiều nhất và cho hiệu quả kinh tế nhất. Như ta đã biết, rễ là cơ quan chính hấp thụ nước và muối khoáng cho cây, ngoài ra lá cũng có khả năng này. Đối với lan lớn, việc hấp thụ qua lá không đủ dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và phát triển của cây, do đó cần chú ý đến bộ rễ tưới làm sao cho rễ có thể hấp thụ dinh dưỡng thuận lợi nhất.

Nếu tưới phân như tuới nước thì sử dụng quá nhiều phân, gây lãng phí. Bởi vậy trước khi tưới phân, nên tưới qua một lượt nước làm cho chất trồng dễ dàng thấm phân không bị chảy tuột đi. Nên tưới phân vào sáng sớm hay lúc xế chiều, không nên tưới phân vào buổi trưa. Khoảng cách của các lần tưới phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện khí hậu, chất trồng, tình trạng cây, loại phân, nồng độ phân... Bình thường tưới một lần trong một tuần nhưng nếu vườn lan râm mát thì khoảng cách dài hơn 10 - 15 ngày/lần. Ngược lại, vườn lan có nhiều ánh sáng có thể tưới 2 lần/1tuần. Sau khi tưới phân nên tăng lượng nước tưới của ngày sau đó để rửa bớt muối còn đọng lại tránh ảnh hưởng bất lợi cho lan.

4. Sâu, bệnh hại lan Cymbidium và biện pháp phòng trừ

- Bệnh hại lan Cymbidium và biện pháp phòng trừ

* Bệnh đen thân cây con

+ Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh xuất hiện ở gốc thân hoặc cổ rễ màu nâu, sau đó lớn dần làm khô tóp đoạn thân gần gốc và cổ rễ, thân gốc có màu đen. Các lá phía trên chuyển sang màu vàng, cong queo dị hình. Cây con thường chết sau 2 - 3 tuần nhiễm bệnh. Trong căn hành thường có một dải màu tím hoặc màu hồng nhạt.

+ Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Fusarium oxysporum gây ra.

+ Biện pháp phòng trừ: Nên tách những cây bị bệnh riêng và dùng thuốc phòng trừ cho những cây còn lại bằng cách phun hay nhúng cả cây vào thuốc trừ nấm. Nếu cây lớn hơn thì cắt bỏ phần thối rồi phun thuốc diệt nấm. Sử dụng các loại thuốc diệt nấm như Carboxin 1/2000 (1g thuốc hoà trong 2 lít nước), Zineb 3/2000, Benlat 1/2000.

* Bệnh đốm lá

+ Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh thường có hình thoi hoặc hình tròn nhỏ (đường kính trung bình 1 mm), màu xám nâu, xuất hiện ở mặt dưới lá. Bệnh nặng làm lá vàng, chóng rụng, cây cằn cỗi, sinh trưởng kém.

+ Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Cercospora sp gây ra.

+ Biện pháp phòng trừ: Bệnh thường phát sinh phát triển trong mùa mưa ở những vườn lan có độ ẩm cao và những vườn có hiện tượng thiếu lân, do đó cần chăm sóc chu đáo kết hợp với phun thuốc trừ nấm để hạn chế bệnh này.

* Bệnh thán thư

+ Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh thường hình tròn, nhỏ, màu nâu vàng, xuất hiện từ mép lá, chót lá hoặc giữa phiến lá, kích thước trung bình từ 3 - 6 mm. Giữa vết bệnh hơi lõm màu xám trắng, xung quanh có gờ nhỏ màu nâu đỏ, trên mô bệnh có nhiều chấm nhỏ màu đen là đĩa cành của nấm gây bệnh.

+ Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Colletotrichicm gloeosrioides gây ra.

+ Biện pháp phòng trừ: Bệnh phát triển mạnh vào mùa mưa nên phải phòng trừ trước. Thường cắt bỏ lá vàng rồi phun thuốc diệt nấm 1 hoặc 2 tuần phun 1 lần. Trong mùa mưa cần phun 5 - 7 ngày/lần.

 

* Bệnh thối nâu vi khuẩn

+ Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh màu nâu nhạt, hình tròn mọng nước về sau chuyển sang màu nâu đen. Bệnh hại cả lá, thân, mầm làm các bộ phận trên bị thối, có mùi khó chịu.

+ Nguyên nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Erwnia cotovora gây ra.

+ Biện pháp phòng trừ: Cắt bỏ phần thối rồi nhúng cây vào nước thuốc Natriphene hay Physan 20, tỷ lệ 1:2000, hoặc lấy vôi bôi vào vết cắt, ngừng tưới nước 1 - 2 ngày.

*Bệnh thối mềm vi khuẩn

+ Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh dạng hình bất định, ủng nước, màu trắng đục, thường lan rộng theo chiều rộng của lá. Gặp thời tiết ẩm ướt mô bệnh bị thối úng, thời tiết khô hanh mô bệnh khô tóp có màu trắng xám.

+ Nguyên nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Pseudomonas gây ra.

+ Biện pháp phòng trừ: Cắt bỏ phần bị thối, dùng các loại kháng sinh như Streptomycin dạng bột dùng cho nông nghiệp, bôi vào vết cắt hoặc dùng 1g Streptomycin và 2 viên Tetracyclin 500 hoà với 1,5 lít nước phun vào vườn lan.

* Bệnh thối hạch

+ Đặc điểm triệu chứng: Trên gốc thân vết bệnh màu vàng nhạt sau chuyển sang màu vàng nâu, thân cây teo tóp, lá vàng. Do gốc rễ bị tổn thương nên thân lá thường răn rúm, cây lan sinh trưởng kém, bệnh nặng làm chết cây. Mô bệnh thường có nhiều hạch nấm non màu trắng, hạch già có màu nâu.

+ Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Sclerotium rolfsii gây ra.

+ Biện pháp phòng trừ: Trong các vườn lan có độ ẩm quá cao, hoặc các chậu treo sát nhau, bệnh này phát triển mạnh, lây lan nhanh. Do đó phải hạn chế độ ẩm kết hợp với phun thuốc trừ nấm.

* Bệnh đốm vòng cánh hoa

+ Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh nhỏ màu đen hơi lõm, hình tròn có vân đồng tâm. Bệnh hại nụ hoa, cuống hoa, đài hoa, cánh hoa, làm mất vẻ đẹp của hoa và hoa bị rụng sớm. Trên mô bệnh thường có lớp nấm mối màu đen, trời mưa vết bệnh thường phát triển làm thối lá.

+ Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Alternaria gây ra.

+ Biện pháp phòng trừ: Dùng thuốc diệt nấm phun khi bệnh mới chớm xuất hiện, tránh tình trạng phòng trừ muộn ảnh hưởng đến chất lượng của hoa.

* Bệnh đốm gỉ cánh hoa

+ Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh ban đầu là một chấm nhỏ màu nâu hơi lồi lên về sau lan rộng ra thành một đốm lớn màu nâu nhạt, có ranh giới rõ ràng giữa mô bệnh và mô khoẻ. Bệnh làm hoa mất vẻ đẹp, mất giá trị thẩm mỹ.

+ Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Curvularia eragostidis gây ra.

+ Biện pháp phòng trừ: Dùng các loại thuốc diệt nấm có chứa lưu huỳnh, phòng trừ sớm mới có tác dụng.

Ngoài các bệnh hại nêu trên, cây lan còn bị các bệnh khác gây hại như bệnh tàn cánh hoa do nấm Botrytis cinerea, bệnh thối trắng rễ do nấm Rhizoctoni solani, bệnh đốm vàng do nấm Cercospora dendrobii, bệnh virus (TMV-O) và virus (CyMv), bệnh vàng lá sinh lý (không truyền nhiễm), do nhiệt độ, dinh dưỡng, độ ẩm, quá thấp hoặc quá cao gây ra.

- Côn trùng hại lan Cymbidium và biện pháp phòng trừ

+ Nhện đỏ: Trừ nhện đỏ có thể dùng Sulphua wettable powder 1kg/20 lít nước để phun, Kelthane 1 thìa cà phê/1 lít nước, Malathion 30 g/20 lít nước phun liên tục 1 - 2 lần/tuần.

+ Trừ rầy, rệp: Dùng Malathion 50 pha 1 thìa cà phê/1 lít nước hoặc dùng bàn chải chà xát rồi nhúng cây vào dung dịch thuốc pha loãng

+ Trừ bọ trĩ: Khi xuất hiện bọ trĩ phải phun thuốc 1 tuần/lần bằng dung dịch Kelthane 2 ml/20 lít nước.

+ Trừ rệp vẩy: dùng Malathion 1 thìa cà phê/4 lít nước phun 1 tuần 1 lần, trong 3 tuần liên tiếp. Phải phun sớm và phun vào buổi sáng sớm hay chiều mát, tránh phun khi thời tiết nắng hoặc mưa to để đảm bảo an toàn cho cây, người và không lãng phí thuốc./.

 

Ngày đăng: 07/12/2018 - Số lần được xem: 164