Phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa gắn với nâng cao chất lượng sản phẩm


Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp ở Vĩnh Phúc đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức sản xuất. Các chính sách hỗ trợ thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2016 – 2020 đã phát huy hiệu quả, là động lực hình thành nên các vùng nông sản hàng hóa lớn, chất lượng sản phẩm từng bước được nâng lên, từ đó tăng sức cạnh tranh, nâng cao giá trị sản phẩm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn.

Qua 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc đã góp phần chuyển dịch cơ cấu toàn ngành theo hướng giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi. Sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt chăn nuôi lợn, bò sữa và gia cầm đã trở thành thế mạnh của tỉnh, góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đã hình thành một số vùng chăn nuôi lợn tập trung tại huyện Lập Thạch, Yên Lạc; chăn nuôi gia cầm tại Tam Dương, Tam Đảo; chăn nuôi bò sữa tại các huyện Vĩnh Tường, Lập Thạch, Tam Đảo. Trong lĩnh vực trồng trọt đã hình thành các vùng chuyên canh sản xuất rau, quả hàng hóa tập trung, quy mô lớn như: Vùng dưa chuột xã An Hòa (Tam Dương) quy mô 70 ha; vùng su su huyện Tam Đảo, quy mô 90 ha; vùng cà chua huyện Yên Lạc quy mô 40 ha; vùng Thanh long ruột đỏ huyện Lập Thạch quy mô 120 ha,... Sản xuất thủy sản tập trung phát triển các giống mới; chuyển dịch cơ cấu giữa nuôi trồng và khai thác gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản; phát triển nuôi các loại cá thịt theo hướng thâm canh và bán thâm canh, tăng năng suất, đảm bảo chất lượng, hiệu quả. Trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều điển hình nuôi cá thâm canh có hiệu quả cho lợi nhuận trên 100 triệu đồng/ha/vụ, gấp 2-3 lần so với mô hình nuôi cá truyền thống theo phương thức quảng canh cải tiến. Nhiều sản phẩm nông sản của Vĩnh Phúc không chỉ đủ đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm sử dụng trong tỉnh mà còn cung cấp hàng hóa cho các vùng lân cận, các tỉnh biên giới phía Bắc và một phần xuất khẩu.

Tuy nhiên, việc chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp truyền thống đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm tại chỗ sang nền nông nghiệp hàng hóa đòi hỏi sự thay đổi lớn về cách thức tổ chức sản xuất. Nếu như trước đây người nông dân quen với việc sản xuất nhỏ lẻ, sản phẩm làm ra trước hết để phục vụ trong gia đình còn thừa đâu mới đem bán. Nhưng xu thế phát triển của xã hội hiện đại, sản xuất nhỏ lẻ sẽ không có chỗ đứng trên thị trường bởi những lý do như sau:

Một là: Khó kiểm soát về chất lượng sản phẩm do hiện nay phần lớn nông dân vẫn sản xuất theo kinh nghiệm, không theo tiêu chuẩn quy chuẩn, cơ quan quan lý nhà nước không đủ nguồn lực để kiểm tra đối với tất cả các hộ. Do đó nguy cơ mất an toàn thực phẩm có thể xẩy ra.

Hai là: Sản lượng sản phẩm không đủ lớn, cung cấp không ổn định nên không ký được hợp đồng tiêu thụ bền vững mà phải phụ thuộc vào thương lái.

Ba là: Hình thức, chất lượng sản phẩm không đồng đều nên sức cạnh tranh của sản phẩm yếu.

Bốn là: Không truy xuất được nguồn gốc sản phẩm, điều này sẽ không được thị trường hiện đại chấp nhận.

Năm là: Giá thành sản xuất cao (nhất là trong chăn nuôi) cho nên sản xuất nhỏ lẻ sẽ từng bước bị đào thải theo quy luật thị trường.

Để thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa gắn với nâng cao chất lượng sản phẩm, giai đoạn 2016 – 2020 Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các chính sách hỗ trợ như: Nghị quyết số 201/2015/NQ-HĐND ngày 22/12/2015 của HĐND tỉnh về một số cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện Tái cơ cấu ngành nông nghiệp Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 - 2020; Nghị quyết số 202/2015/NQ-HĐND ngày 22/12/2015 ban hành chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 06/2016/QĐ-UBND, ngày 04/02/2016 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về Quy định hỗ trợ áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, thủy sản và hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020. 

Với việc đưa các chính sách hỗ trợ của tỉnh đi vào cuộc sống, đến nay ngành nông nghiệp Vĩnh Phúc đã có nhiều chuyển biến tích cực. Phương thức tổ chức sản xuất của người dân đã chuyển dần từ nhỏ lẻ sang sản xuất tập trung, phục vụ nhu cầu thị trường. Song song với đó là chất lượng và giá trị sản phẩm ngày càng được nâng cao một cách rõ rệt. 

Trong lĩnh vực trồng trọt: Đã hình thành một số vùng sản xuất rau, quả hàng hóa an toàn thực phẩm theo quy trình VietGAP đạt trên 1.640 ha (Diện tích tập trung 1.481 ha; diện tích phân tán 159 ha); trong đó có 987 ha rau an toàn được cấp chứng nhận đủ điều kiện ATTP và 695 ha rau sản xuất theo VietGAP, sản lượng rau an toàn và rau được cấp giấy chứng nhận VietGAP ước đạt 40 nghìn tấn/năm. Các loại cây rau quả sản xuất hàng hóa an toàn theo VietGAP đều cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao; sau khi trừ chi phí, các loại cây trồng cho lãi từ 34,7 triệu đồng/ha (bí đỏ) đến 259 triệu đồng/ha (cà chua)... Việc hỗ trợ sản xuất theo VietGAP đã giúp người sản xuất mở rộng diện tích trồng rau, quả an toàn, tăng sản phẩm đảm bảo ATTP, nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích canh tác.

Công ty nấm Phùng Gia (xã Tam Hợp, Bình Xuyên), đơn vị tiên phong ứng dụng công nghệ cao và hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến trong sản xuất.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản: Từ năm 2016 đến nay, Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản đã và đang hỗ trợ cho 69 trang trại chăn nuôi lợn; 36 cơ sở chăn nuôi bò sữa; 5 trang trại chăn nuôi gà; 15 cơ sở nuôi trồng thủy sản áp dụng quy trình VietGAP. Qua thực tế đã chứng minh việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất trong chăn nuôi lợn mang lại nhiều lợi ích như: Đối với người sản xuất: tạo ra sản phẩm an toàn và chất lượng; sản phẩm dễ dàng được lưu thông trên thị trường khi có chứng nhận làm giấy thông hành tiêu thụ tại các siêu thị, các bếp ăn tập thể, nhà hàng, khách sạn; nhờ những biện pháp phòng chống dịch bệnh triệt để mà số vật nuôi ốm chết giảm,dịch bệnh không xảy ra nên chi phí cho các loại thuốc chữa bệnh cũng giảm, từ đó nâng cao lợi nhuận cho người chăn nuôi; giúp nhà sản xuất phản ứng kịp thời hơn với các vấn đề trong sản xuất liên quan đến an toàn, vệ sinh thực phẩm thông qua việc kiểm soát sản xuất. Đối với người tiêu dùng: được sử dụng những sản phẩm an toàn, có thông tin nguồn gốc xuất xứ thực phẩm rõ ràng; khuyến khích quyền được đòi hỏi của người tiêu dùng về thực phẩm an toàn. Đối với xã hội: chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP sẽ giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường; đáp ứng quy định của nhà nước về quản lý chất lượng thực phẩm; thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển bền vững.

Trong thời gian tới việc nâng cao chất lượng nông sản càng cần được chú trong nhiều hơn do yêu cầu khắt khe của thị trường và xu thế hội nhập quốc tế. Ví dụ, trước đây đối với thị trường Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chủ yếu của nông sản Việt Nam theo con được tiểu ngạch, là thị trường tương đối dễ tính, không yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm, nhưng nay các sản phẩm nông sản xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc đều phải được cấp mã vùng trồng, truy xuất được nguồn gốc và phải có tem nhãn nhận diện rõ ràng.

Mới đây nhất Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu ( EVFTA) đã được Nghị viện châu Âu  và Quốc hội Việt Nam khóa XIV biểu quyết thông qua, Hiệp định chính thức có hiệu lực từ ngày 01/8/2020.

Theo Hiệp định, đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Ở chiều ngược lại Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế, tương đương 64,5% kim ngạch nhập khẩu từ EU, sau 10 năm là khoảng 99% số dòng thuế, tương đương 99,8% kim ngạch nhập khẩu từ EU. Thực hiện Hiệp định EVFTA nông sản Việt Nam nói chung, nông sản Vĩnh Phúc nói riêng sẽ có cơ hội tiến sâu hơn vào thị trường EU, các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam dễ dàng tiếp cận, tiến hành trao đổi mua bán với những thị trường khác có thỏa thuận thương mại tự do với EU. Song sức ép cạnh tranh của nông sản nhập khẩu từ EU cũng không hề nhỏ, nhất là các mặt hàng nông sản thực phẩm như: Sữa và các sản phẩm từ sữa, thịt lợn, gà, bò, thực phẩm chế biến vốn là những mặt hàng được đánh giá cao về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, mẫu mã.

Như vậy, vấn đề cốt lõi của sản xuất nông nghiệp hàng hóa là phải xác định được thị trường rõ ràng, sản phẩm làm ra tiêu thụ ở đâu? yêu cầu chất lượng sản phẩm của thị trường đó như thế nào? để từ đó triển khai sản xuất phù hợp, hiệu quả. Lời giải cho bài toán này là nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp trong nước phải liên kết với nhau hình thành các hợp tác xã, vùng sản xuất nông nghiệp lớn, tham gia các Hiệp hội ngành hàng để có thông tin về thị trường; không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, bằng cách áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như: Thực hành sản xuất tốt trong nông nghiệp (GAP); HACCP trong chế biến nông sản; ISO 22000 trong quản lý an toàn thực phẩm… Đây là những điều kiện bắt buộc để sản phẩm hướng tới các thị trường cao cấp từ đó từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp Vĩnh Phúc phát triển bền vững và có giá trị gia tăng cao./.

Ngày đăng: 12/08/2020 Tác giả: Nguyễn Cường – Chi cục QLCL Nông lâm sản và Thủy sản - Số lần được xem: 89

Giá cả thị trường


ĐƠN VỊ THUỘC CƠ SỞ


Liên kết website